About

Monday, March 2, 2015

36 kế sách - Binh pháp tôn tử

Ngày nay khi nhắc tới Binh Pháp Tôn Tử thì hầu hết chúng ta đều liên tưởng qua lĩnh vực Quản lý và Marketing. Các nhà lãnh đạo, chiến lược gia, chuyên gia marketing đều phải am hiểu các kế sách này để phục vụ cho công việc của mình. Giá trị về mặt thực dụng của 36 kế sách này vẫn tồn tại như một triết lý sống vĩnh cửu. Mục đích không ngoài những kinh nghiệm chung Thu nhặt được_Trong bài viết này tôi xin giới thiệu một số khải niệm chung về “Tam Thập Lục Kế”:

Tam Thập Lục Kế _ 36 Kế Sách  _ Binh Pháp Tôn Tử

1. Dương đông kích tây (Đánh lạc hướng đối phương)
Kế “Dương đông kích tây” là reo hò giả vờ như thật sự đánh vào phía đông, nhưng chủ yếu lại đánh vào phía tâỵ


Trong tất cả mọi vấn đề của xã hội, từ chiến trường, thương trường, chính trường cho đến tình trường; nếu muốn điều này nhưng lại giả làm điều kia, nói điều này mà làm điều nọ, ấy là “Dương đông kích tây” vậỵ
Kế này mờ ảo vô song. Nó rất khó biết, khó đoán, bị đánh bất ngờ. Kế này nhằm chuyển mục tiêu để lừa dối đối phương, khiến cho địch sơ ý, lừa lúc bất ý tấn công kẻ không chuẩn bị.
Có nhiều cách thức để thực hiện kế này, như:
- Tạo tin đồn. – Làm rối tai rối mắt địch. – Buộc đối phương lo nhiều mặt. – Mê hoặc ý chí của địch. – Nghi binh. – Làm phân tán lực lượng đối phương. – Làm yếu lực lượng đối phương, lực lượng phòng vệ địch.
Nguyên tắc của ” Dương đông kích tây” là bí mật và chủ động. Bị động coi như phải chịu sự khống chế của địch.

Điều kỵ khi dùng kế ” Dương đông kích tây” là để lộ cơ.
Lộ cơ là mất hết khả năng phòng bị, chuẩn bị. Dù là trên chiến trường, thương trường hay chính trường cũng đều phải giữ bí mật và nắm được thế chủ động.


2. Điệu hổ ly sơn (Dụ hổ ra khỏi rừng)
Kế “Điệu hổ ly sơn” là nhử, dụ hay khuấy động làm cho con hổ ra khỏi rừng.
Kế “Điệu hổ ly sơn” có hai lối: Một là nhử hổ ra khỏi rừng để dễ dàng giết hổ. Hai là đuổi hổ đi để dễ bắt giết những loại hồ ly vẫn dựa oai hổ mà hoành hành.


3. Nhất tiễn hạ song điêu (Một mũi tên hạ hai con chim)
Kế “Nhất tiễn song điêu” là dùng một mũi tên bắn chết hai con chim.
Ý của mưu kế này là dùng sức lực tối thiểu để đạt đến hiệu quả tối đa.


4. Minh tri cố muội (Biết rõ mà làm như không biết)
Kế “Minh tri cố muội” là biết thật rõ chuyện đấy, nhưng làm ra vẻ không biết gì.
Với người xưa, đây là một triết lý xử thế rất cao, mục đích lại ẩn trốn tất cả những tiếng thị phi nghi hoặc, nhưng theo nghĩa mưu kế, nó là một thái độ thâm sâu.
Cái đức của người quân tử không thể không cho thiên hạ biết, nhưng cái mưu kế của trượng phu không thể không giấu thiên hạ.
Tóm lại, biết rất nhiều mà tỏ ra không biết một là kế “Minh tri cố muội” vậy.


5. Du long chuyển phượng (Biến rồng thành phượng)
Kế “Du long chuyển phượng” là biến cái này thành cái kia, bên trong là hình rồng đó, nhưng làm cho nó trở thành phượng.
Cái kế này rất phổ biến, trong dân gian ta gọi là “Treo đầu dê, bán thịt chó”.


6. Mỹ nhân kế (Kế dùng gái đẹp)
“Mỹ nhân kế” là dùng gái đẹp để làm xoay chuyển, thay đổi tình thế mà những cái khác không thể thực hiện được.
Giai nhân từ ngàn xưa đến nay bao giờ cũng là đề tài chính. Tuy là phái yếu, không thể vác gươm đao mà đánh giặc, nhưng các nàng có thể thắng được bằng đôi mắt biếc và nụ cười xinh đẹp.
Có những bức thành kiên cố cả mười vạn quân không hạ nổi, nhưng nó có thể bị sụp đổ bởi ánh mắt mỹ nhân.
Sức mạnh của mỹ nhân đặc biệt là có ảnh hưởng đối với người anh hùng, người có quyền thế.


7. Sấn hỏa đả kiếp (Theo lửa mà hành động)
Kế “Sấn hỏa đả kiếp” là lợi dụng lúc loạn để thao túng, lúc tình hình rối ren mà sắp xếp theo ý muốn.
Có hai loại “Sấn hỏa đả kiếp”: Một là theo lửa để mà đánh cướp. Hai là chính ta phóng hỏa mà đánh cướp.
Theo lửa tức là thừa lúc người ở trong cơn nguy biến mà ta quấy hỗn loạn thêm.
Phóng hỏa tức là chính ta gây ra sự hỗn loạn mà thực hiện theo ý muốn của ta.
Theo lửa hay phóng hỏa cùng đi chung vào một mục đích là đánh địch và đoạt của địch để tạo cơ hội cho ta.
Theo lửa thì dựa vào thời cơ sẵn có.
Phóng hỏa thì tự ta tạo ra thời cơ.
Không thể phê phán theo lửa hay phóng hỏa, cái nào hay, cái nào dở, cái nào tốt, cái nào xấu, vì cả hai giống như một sự biến ảo giữa không khí và nước.
Trong sử sách, người ta thấy tay phóng hỏa giỏi là Trương Nghi. Một mình Trương Nghi đã phá tan thế hợp tung bằng cách dối Tề, lừa Triệu, dọa Ngụy, thuyết Yên, bịp Sở.
Trương Nghi thật là con người có cái lưỡi bằng lửa thiêu đốt cả sáu nước, dựng thành cơ nghiệp thống nhất cho nhà Tần.
Khổng Minh tuy là một nhà chính trị lỗi lạc tài tình, nhưng cái thế của ông ngay từ đầu chỉ là cái thế phải theo lửa để gây vốn: Lưu Bị bị Tào Tháo đánh chạy đến cùng đường, Khổng Minh đành tính kế nương nhờ Tôn Quyền rồi ăn theo cuộc chiến tranh Nam – Bắc, ăn theo trận Xích Bích để cướp Kinh Châu.
“Sấn hỏa đả kiếp” đòi hỏi một khả năng hành động mau lẹ như con ó bắt mồi.


8. Vô trung sinh hữu (Không có mà làm thành có)
Kế “Vô trung sinh hữu” là từ không mà tạo thành có.
Thiên hạ không loạn, trật tự không rối thì làm gì có anh hào xuất lộ! Bởi lẽ đó, những anh hào thường được gọi là kẻ “chọc trời khuấy nước”. Mục đích của khuấy nước là làm rối beng sự việc lên để dễ bề thao túng. Thủ đoạn của khuấy nước là gây tiếng tăm, tung tiếng đồn, gây xáo trộn rồi dựa vào đó mà thủ lợi.
Kế “Vô trung sinh hữu” hình dung là tu hú đẻ nhờ, tổ thì chim khác làm, nhưng con tu hú cứ đến đặt trứng của nó vào đó, rồi lại nhờ loài chim khác ấp trứng luôn, khi trứng nở thành chim, tu hú con bay về với bầy tu hú.


9. Tiên phát chế nhân (Ra tay trước để chế phục đối phương)
“Tiên phát chế nhân” là ra tay trước để dành chiếm ưu thế, để đoạt lợi, để bắt lấy sự chiến thắng.
Kế “Tiên phát chế nhân” là không nói quá xa, viễn vông, mà phải nhìn vào thực tế gần nhất.
Các vụ xảy ra trong lịch sử như: Lý Thế Dân tại Huyền Vũ Môn, Võ Tắc Thiên phế lập Lư Lăng Vương, Ung Chính cướp Bảo Tòa, Từ Hi độc sát Quang Tự, Gia Cát Lượng lấy đất Quang Trung… Tất cả đều là áp dụng thủ đoạn “chớp nhoáng” không cho địch kịp trở tay, không cho dư luận phản ứng kịp.
Vẫn có câu “Tiên hạ thủ vi cường” là vậy.

10. Đả thảo kinh xà (Đập cỏ làm cho rắn sợ)
Kế “Đả thảo kinh xà” là đập vào cỏ, làm động cho rắn sợ.


11. Tá đao sát nhân (Mượn đao để giết người)
Kế “Tá đao sát nhân” là mượn dao để giết người, mượn tay người khác để giết kẻ thù của mình.
Ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Sát nhân bất kiến huyết, kiến huyết phi anh hùng”. (Giết người không thấy máu, thấy máu không anh hùng).
Trên đời dĩ nhiên chưa có kẻ nào chỉ giết người mà thành anh hùng, nhưng cũng hiếm có tay anh hùng nào không giết người. Điểm khác nhau không ở có hay không, mà ở chỗ thông minh hay ngu xuẩn. Tào Tháo mượn Lưu Biểu giết Nễ Hành, mượn lòng quân giết Dương Tu rồi lại được làm cái việc mèo già khóc chuột, thật đáng kể là một tay thông minh, gian hùng.


12. Di thể giá họa (Dùng vật gì để vu khống người ta)
Kế “Di thể giá họa” là đem xác chết hay đồ vật gì bỏ vào nhà người khác để giá họa.
Kế này thường được dùng bởi khối óc quỷ quyệt thông minh, tự mình không ra mặt mà làm cho đối phương bị hại. Như vậy gọi là “giết người không thấy máu”.


13. Khích tướng kế (Kế chọc giận tướng giặc)
“Khích tướng kế” là kế chọc giận tướng giặc, làm tướng giặc nổi giận. Nổi giận sẽ mất sáng suốt, thiếu suy nghĩ, không tự chủ được con người mình.
Mạnh Tử nói: “Nhất nộ nhi an thiên hạ”.
Trong đời có nhiều sự việc được thành tựu bằng một cơn giận và cũng có nhiều việc thất bại bởi một cơn giận.
Bởi vậy cái kế khích tướng cũng là một trong những diệu kế, nếu đạt ra thì kiến thiên hạ, cùng thì mang họa vào thân.
Khích tướng còn là khơi dậy cái hùng khí của người khác để người ấy làm việc cho ta.
Đối tượng tốt nhất của kế khích tướng là những người có tính tình bạo tháo hay sẵn sàng phẫn nộ.
Tuân Tử bảo rằng: “Lời nói khéo êm như lụa, lời nói ác nhọn như giáo mác”.
Thuyết là tiến dẫn lời nói, cái nghĩa căn bản của thuyết làm cho người ta nghe theo. Hiệu quả của thuyết rất lớn. Bởi thế mới có câu: “Thiên hạ tĩnh, nhất ngôn sử chi động. Thiên hạ động, nhất ngôn sử chi tĩnh”. (Thiên hạ đang yên lặng, một lời nói làm náo loạn. Thiên hạ đang náo loạn, một lời nói làm lắng dịu).
Căn bản mưu thuật của thuyết, theo Tuân Tử có bốn điều: Cơ, dũng, trí, biến.
- Cơ: Là xem thời độ thế, nhân lợi thuận tiện.
- Dũng: Là quyết đoán nói những điều không ai dám nói.
- Trí: Là biết rõ sự tình, tâm lý, giải quyết được thắc mắc, chế phục được người.
- Biến: Là biến hóa, trong các trường hợp bất trắc.

Mục đích của thuyết có năm điều:
- Làm cho người hiểu rõ.
- Làm cho người tin tưởng.
- Làm cho người đồng tình.
- Làm cho người phục.
- Làm cho người theo.
Đạt được năm mục đích trên thì kể như nắm chắc phần thắng trong tay.


14. Man thiên quá hải (Lợi dụng sương mù để lẩn trốn)
Kế “Man thiên quá hải” là lợi dụng lúc trời sương mù mà lẩn trốn, vượt qua hay hành động ngay trong lúc sương mù.
Man thiên, trời u ám không phải hoàn cảnh hoàn toàn bất lợi như một quẻ trong Dịch lý đã nói. Man thiên, không thể ngồi đợi nó tới như sương mù do thời tiết thiên nhiên, mà phải tạo ra nó.
Kế “Man thiên” đem áp dụng thực hiện được cả hai mặt: tiêu cực lẫn tích cực.
Tích cực là đem ánh sáng đến cho một tình thế mờ mịt.
Tiêu cực là lẩn tránh một tai họa, là lợi dụng cơ hội sơ hở của địch để thoát bí.
Ở trận Xích Bích, Khổng Minh đã giải quyết vấn đề thiếu tên bắn cho các cung thủ bằng cách lấy mười chiếc thuyền lớn chất đầy rơm, đợi lúc trời sương mù, âm thầm đến trại Tào Tháo nổi trống la hét làm như tấn công. Tào sợ ngụy kế, không dám xông ra, chỉ bắn tên như mưa vào các thuyền rơm. Bằng một đêm đánh trống reo hò, không chết một người, Khổng Minh đã lấy được của Tào Tháo cả trăm ngàn mũi tên.


15. Ám độ trần sương (Đi con đường mà không ai nghĩ đến)
Kế “Ám độ trần sương” là bí mật đưa quân qua con đường mà không ai nghĩ rằng ta sẽ đi qua.
Kế này áp dụng giữa lúc hai bên đang đấu tranh, chiến đấu với nhau.
Mỗi bên đều ra sức giấu mục tiêu thật của mình rồi đưa ra mục tiêu giả mà lừa đối phương.
Đây là công việc rất phức tạp, có một quá trình khúc triết. Như “Tôn Tử Binh Pháp” viết: “Việc binh là trá ngụy, có thể mà làm ra vẻ không có thể, dùng đấy mà tỏ ra không dùng, gần giả làm như xa, xa giả làm như gần. Lấy lợi mà dụ, gây rối mà đuổi, thấy khỏe thì tránh. Đầu tiên là làm mọi cách giảm nhược lực đối phương, sau rồi mới tiến hành dự định.
Muốn dụng kế này phải là người có tầm nhìn xa hiểu rộng và một khối óc tuyệt vời.


16. Phản khách vi chủ (Đổi vị khách thành vị chủ)
Kế “Phản khách vi chủ” là đổi địa vị khách thành địa vị chủ.
“Phản khách vi chủ” là trong đấu tranh đang ở vào thế bị động nên phải tìm kế hoạch đến chủ động, khách vốn là địa vị bị chi phối, mọi việc đều do chủ đặt định sắp xếp.
“Phản khách vi chủ” là nguyên tắc thường dùng trong đấu tranh. Có chủ động mới khống chế được cục diện. Không có chủ động, không thể thắng lợi.


17. Kim thiền thoát xác (Ve sầu vàng lột xác)
“Kim thiền thoát xác” là con ve sầu vàng lột xác.
Kế này dùng cho lúc nguy cấp, tính chuyện ngụy trang một hình tượng để lừa dối, che mắt đối phương, đặng đào tẩu chờ một cơ hội khác.
Kế “Kim thiền thoát xác” có một phạm vi rất rộng rãi và phổ biến, bất cứ ai ở hoàn cảnh nào cũng có thể sử dụng được.


18. Không thành kế (Kế bỏ trống cửa thành)
“Không thành kế” là kế bỏ thành trống, thành bỏ ngỏ.
Kế này có hai loại:
- Một là lúc tình thế cực khẩn cấp, nguy hiểm như treo trên sợi tóc, buộc phải dùng nghi binh để lừa dối đối phương mà dựa vào đó để trốn thoát.
- Hai là rút lui với đầy đủ kế hoạch dụ cho địch quân xâm nhập rồi mới bao vây tiêu diệt.
“Không thành kế” thực ra là một cách tạo nghi âm cho đối phương, mục đích là không cho đối phương sớm có một quyết định.


19. Cầm tặc cầm vương (Dẹp giặc phải bắt tướng giặc)
“Cầm tặc cầm vương” là dẹp giặc phải bắt chúa giặc.
Phương pháp bắt chúa giặc thật thiên biến vạn hóa, không cứ bằng sức mạnh hay bằng trí khôn. Các kế khác như “Điệu hổ ly sơn”, “Mỹ nhân kế” hay “Man thiên quá hải” đều có thể dùng cho kế “Cầm tặc cầm vương”. Để đối phó với một nhân vật anh hùng, thì dù một quả đạn mà giết hay dùng mỹ nhân kế mà nhử thì cũng như nhau.
Nhưng đa số âm mưu cầm vương được hiệu quả bằng kích thích anh hùng và mỹ nhân kế.
“Tự cổ anh hùng đa hiếu sắc” là vậy.
Việt Vương thua trận rồi, mà chỉ dùng một nàng Tây Thi đã đủ giam cầm Phù Sai. Lý Viên muốn đoạt quyền của Xuân Thân Quân, nên đã cho cô em là Lý Yên sang làm tì thiếp. Đó là những cách gián tiếp để cầm vương.


20. Ban chư ngật hổ (Giả làm con heo để ăn thịt con hổ)
Kế “Ban chư ngật hổ” là giả làm con heo để ăn thịt con hổ.
Lão Tử nói: “Người cực khôn khéo mà làm ra vụng về”, cũng như câu “đại trí nhược ngu”. Người đi săn thường học tiếng heo kêu rồi tự giả làm heo để nhử con hổ.
Đối với kẻ thù, ta hãy giả ngu như một con heo, trên bề mặt cái gì cũng thuận chịu, lúc nào cũng cười, lúc nào cũng cung kính để cho địch mất hết nghi âm. Chờ thời cơ chín, tìm thấy chỗ nhược của kẻ thù mà đập đòn sấm sét.
- Dùng việc không gì quan trọng bằng bí mật.
- Hành động không gì quan trọng bằng thừa lúc bất ý.
- Dò xét không gì quan trọng bằng làm cho địch không hay biết.
- Bên ngoài ra vẻ loạn mà bên trong rất có cơ ngũ.
- Tỏ ra đói mệt nhưng thật là no khỏe.
- Làm ra ngu xuẩn nhưng rất tinh tường.
Những câu trên đây chính là căn bản lý luận của kế “Ban chư ngật hổ” vậy.


 21. Quá kiều trừu bản (Qua cầu rồi phá cầu)
“Quá kiều trừu bản” là qua cầu rồi thì phá cầu, ý nói một người sau khi đã thành công, muốn hưởng thụ một mình nên giết hại hoặc xa lánh những người bạn đã đồng lao cộng khổ với mình.
Kế “Quá kiều trừu bản” thường trái ngược với kế “Ban chư ngật hổ”. Qua cầu cất nhịp là lúc đắc thời đắc thế đem thuộc hạ ra mà khai đạo. Còn giả tiếng heo là kế áp dụng giữa lúc ở vào thế kẹt.
Đứng trên lập trường đạo lý thì cất nhịp cầu là một hành động vong ân bội nghĩa.
Lưu Bang nổi danh là người qua cầu cất nhịp lớn nhất trong lịch sử. Lúc Lưu Bang hàn vi còn đi ăn cắp gà, thôi thì Bang nói đủ các điều ngon ngọt dễ nghe để tựu chúng lập đảng. Đến khi nên cơ nghiệp rồi, lo việc củng cố quyền thế, Lưu Bang chẳng ngại gì hết, đổi lại thái độ, nghi ghét triều thần.
Người thứ nhất mà Lưu Bang lôi chém là Hàn Tín, rồi đến Bành Việt, Anh Bố, bỏ tù Tiêu Hà, Trần Hi, Phàn Khoái.
Trương Lương thấy họa chẳng chóng thì chày cũng đến với mình, nên bỏ trốn lên rừng học đạo tu tiên.


22. Liên hoàn kế (Kế móc nối nhau)
“Liên hoàn kế” là nối liền với nhau thành một dây xích.
“Liên hoàn kế” còn là vận dụng một quyền thuật để tạo phản ứng dây chuyền cho đối phương hoặc gây thành phản ứng nhiều mặt.
Mỹ nhân kế là vũ khí phổ biến nhất cần thiết cho việc dùng “Liên hoàn kế”. Vì người đẹp ví như nước, anh hùng ví như bùn, nước làm cho bùn nhão ra.
Từ ngàn xưa, đa số anh hùng đã vì thương hoa tiếc ngọc nên bỏ lãng nhiệm vụ.
Tuy vậy, vẫn phải phân biệt “Mỹ nhân kế” với “Liên hoàn kế”.
Liên hoàn kế là một hình ảnh của thực tiễn, bất cứ việc gì xảy ra cũng gây thành phản ứng dây chuyền. Việc xảy ra hôm nay cũng không tự dưng mọc ra, nó phải là kết quả dây chuyền từ những sự việc trước.


23. Dĩ dật đãi lao (Lấy khỏe để đối phó với mệt)
Kế “Dĩ dật đãi lao” là lấy sự thanh thản để đối phó với hấp tấp, nhọc nhằn; dưỡng sức mà đợi kẻ phí sức.
Kế này viết ở trong thiên “Quân Tranh” của bộ “Tôn Tử Binh Pháp”: “Lấy gần đợi xa, lấy nhàn đợi mệt” nghĩa là trên chiến thuật phải tìm nắm trước địa vị chủ động để ứng phó với mọi tấn công của địch.
Cũng có ý nói nên chuẩn bị chu đáo, dễ dàng lấy cái thế bình tĩnh xem xét tình hình biến hóa mà quyết định chiến lược, chiến thuật. Đợi địch mỏi mệt, tỏa chiết bớt nhuệ khí rồi mới thừa cơ xuất kích.
Tôn Tử gọi thế là: “Ẩn sâu dưới chín từng đất, hành động trên chín từng trời”.
Sử dụng sách lược này đòi hỏi thái độ tuyệt đối trầm tĩnh ứng biến, đo được ý kẻ thù, hoàn cảnh kẻ thù, thực lực kẻ thù. Nếu thời cơ chưa chín thì đứng yên như trái núi. Khi cơ hội vừa tới thì lập tức lấp sông, chuyển bể.
Tư Mã Ý ngăn Gia Cát Lượng ở Kỳ Sơn.
Chu Du phóng hỏa tại Xích Bích.
Tào Tháo đại phá Viên Thiệu nơi Quan Độ.
Tạ Huyền đuổi Bồ Kiên ở Phi Thủy.
Tất cả đều lấy ít đánh nhiều, thế kém vượt thế khỏe. Tất cả đều là kết quả sử dụng tài tình sách lược “Dĩ dật đãi lao”.


24. Chỉ tang mạ hòe (Chỉ vào gốc dâu mà mắng cây hòe)
“Chỉ tang mạ hòe” là chỉ vào gốc dâu mà mắng cây hòe. Ý nói vì không tiện mắng thẳng mặt nên mượn một sự kiện khác để tỏ thái độ.


25. Lạc tỉnh hạ thạch (Ném đá vào người dưới giếng)
“Lạc tỉnh hạ thạch” là ném đá vào đầu kẻ đã rơi xuống giếng.
Rơi xuống giếng lại còn ném đá vào đầu nạn nhân. Nếu đứng trên quan điểm đạo đức Khổng – Mạnh thì phải là hành động không chính nhân quân tử, nhưng nếu coi là một mưu kế thì hành động này lại là một hành động sáng suốt.
Căn bản triết lý của “Lạc tỉnh hạ thạch” là chi phối được thì mới chiếm đoạt được, và nhân từ với kẻ thù tức là tàn nhẫn với chính ta.
Lưu Bị lúc nào hé miệng cũng nói những điều nhân từ, lúc nào cũng chảy nước mắt, nhưng ông lại là người cũng giỏi thủ đoạn “Lạc tỉnh hạ thạch” nhất.
Chẳng vậy mà khi Lã Bố vốn là người làm nhiều ân huệ đối với Lưu Bị, nào việc bắn kích ở Viên Môn, nào việc cho Lưu Bị nương tựa ở căn cứ mình… Đến lúc Lã Bố bị bắt sau khi thất trận Từ Châu, Tào Tháo trong lòng còn đôi chút thương mến muốn dụ dỗ Lã Bố, Lưu Bị ngại Tào Tháo có thêm một mãnh tướng nữa nên đã ghé tai Tào Tháo mà nhắc khéo: “Ông không nhớ chuyện Đinh Nguyên và Đổng Trác hay sao?” (Đinh Nguyên và Đổng Trác đều nhận Lã Bố làm con nuôi, nhưng đều bị chết vì tay Lã Bố.
Lưu Bị đã không kể đến ơn nghĩa, lại còn đưa đòn độc “Lạc tỉnh hạ thạch” hạ Lã Bố. Như vậy, Lã Bố làm sao khỏi chết!


26. Hư trương thanh thế (Thổi phồng thanh thế)
“Hư trương thanh thế” là thổi phồng thanh thế để cho người ta chóa mắt, nể sợ.
Đời Tam Quốc, Tào Tháo tiến xuống Giang Định, rầm rộ cả trăm vạn hùng quân. Tháo định dùng ưu thế tuyệt đối để buộc Tôn Quyền phải hàng phục. Nhưng Khổng Minh trông thấy âm mưu này nên chỉ ba vạn quân với một số mưu kế và trận gió đông đã đánh bại quân Tào.
Khi sử dụng kế này, trước hết phải xem mục đích và giá trị của nó thế nào đã, rồi mới định cỡ to nhỏ.


27. Phủ để trừu tân (Bớt lửa dưới nồi)
Kế “Phủ để trừu tân” là bớt lửa dưới nồi, ý nghĩa là giải quyết trên căn bản một vấn đề, chủ ý không cho nó phát ra (bớt lửa cho nước khỏi trào).
Khi có một việc đã bùng nổ ra rồi thì tìm cách làm cho nó dịu đi, không để nó tiếp tục ác liệt.
Chỗ diệu dụng kế “Phủ để trừu tân” là không nghe thấy tiếng, không nhìn thấy hình, vô cùng như trời đất, khó hiểu như âm dương, khiến cho kẻ thù rơi vào kế của mình mà họ không biết.
Không kể tình trường, chiến trường hay thương trường, kế “Phủ để trừu tân” lúc nào cũng là kế rất âm độc, lớn mang hiệu quả lớn, nhỏ có hiệu quả nhỏ.
Ở tình trường, anh chàng kém vế thường o bế song thân hoặc anh em của đào, hơn là tấn công chính nàng!
Ở chiến trường, kế “Phủ để trừu tân” lại càng dày đặc, giăng mắc như mạng nhện.


28. Sát kê hách hầu (Giết gà cho khỉ sợ)
“Sát kê hách hầu” nghĩa đen là giết con gà cho con khỉ sợ.
Theo truyền thuyết dân gian, con khỉ rất sợ trông thấy máu, cho nên khi người ta muốn dạy khỉ, trước hết họ giết một con gà, bắt con khỉ nhìn thấy đống máu bê bết rồi mới bắt đầu giáo hóa. Lúc bắt khỉ cũng thế, người ta vặn cổ con gà cho nó kêu lên những tiếng ghê rợn, khiến cho khỉ bủn rủn chân tay thì đến bắt.
“Sát kê hách hầu” có tác dụng lớn, làm cho các vụ mới nở ra trong trứng nước bị rơi vào cảnh bối rối, sợ sệt.


29. Phản gián kế (Dùng kế của đối phương để quật lại)
“Phản gián kế” là dùng người của đối phương lừa dối đối phương, dùng kế địch lừa địch.
Tôn Tử nói: “Biết mình là biết thực lực và nhiệm vụ của mình. Biết người là biết thực lực và ý đồ của địch. Biết mình thì tương đối dễ hơn biết người. Cho nên muốn biết người thì phải dùng gián điệp”.


30. Lý đại đào cương ( Đưa cây lý chết thay cây đào)
“Lý đại đào cương” là đưa cây lý chết thay cho cây đào.
Người lớn làm họa, bắt người bé chịu tội thay. Có rất nhiều kẻ tác gian phạm tội lại bắt người khác thế thân.


31. Thuận thủ khiên dương (Thuận tay dắt con dê về)
“Thuận thủ khiên dương” theo nghĩa đen là thuận tay dắt con dê về.
Sự việc trên đời, thiên biến vạn hóa rất kỳ diệu. Phải biết nắm lấy bất cứ cơ hội nào vụt hiện đến trước mắt, đó là những thâu hoạch, những cái lợi bất ngờ.


32. Dục cầm cố tung (Muốn bắt mà lại thả ra)
“Dục cầm cố tung” theo nghĩa đen là muốn bắt cho nên thả ra.
Muốn thực hành kế này, phải có một nhãn quan sâu rộng, một tấm lòng nhẫn nại vô song. Những kẻ cấp công cận lợi không bao giờ có đủ tài trí để thi hành nó.
Kế “Dục cầm cố tung” không thi hành theo cái nghĩa đen của nó. Kế này nói lên sự mềm dẻo cho mọi chính sách, thứ nhất là chính sách thu phục lòng người, giữ người.


33. Khổ nhục kế (Hành hạ thân xác mình để người ta tin)
“Khổ nhục kế” là hành hạ mình, rồi đem cái thân xác bị hành hạ ấy để làm bằng chứng mà tiếp cận với địch để hoàn thành một âm mưu nào đó.


34. Phao bác dẫn ngọc (Ném hòn ngói để thu về hòn ngọc)
“Phao bác dẫn ngọc” nghĩa đen là ném hòn ngói để thu về hòn ngọc. Tức là dùng tiểu vật để đoạt một đại vật, như người đi câu vậy.
Dân gian thường nói “thả con tép bắt con tôm” cũng là kế này.


35. Tá thi hoàn hồn (Mượn xác để hồn về)
“Tá thi hoàn hồn” nghĩa là mượn xác để hồn về.
Ý kế này chỉ rằng: Sau khi đã thất bại, buộc phải lợi dụng một lực lượng nào đó để khởi lên thi hành trở lại chủ trương của mình.
Tuy nhiên, dùng kế này rất dễ đi vào con đường nguy hiểm, nếu sơ xuất thì tỷ như rước voi về giày mả tổ.
Nếu mượn xác mà mượn ẩu thì chẳng khác gì vác xác chết về nhà.


36. Tẩu kế (Chạy, lùi, thoát thân)
“Tẩu kế” nghĩa là chạy, lùi, thoát thân.
Tại sao kế sau chót cổ nhân lại đặt là “kế chạy”?
Lại có câu: “Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách”. (Ba mươi sáu chước, chạy là hơn hết!)
Bởi vậy kế này liên quan nhiều đến sự thành bại của một công việc lớn. Bất luận là đánh nhau bằng văn hay bằng võ, không ai là có thể thắng hoài. Trong quá trình chiến đấu bao gồm nhiều kiểu thắng, nhiều kiểu bại, lúc ẩn lúc hiện, trong chớp mắt dồn dập cả trăm ngàn biến chuyển. Nếu không ứng phó mau lẹ để tránh những cảnh bất lợi, để nắm mau lợi thế mà tiến tới thắng lợi, thì không phải là nhân tài.
Chạy có nhiều phương thức. Bỏ giáp, bỏ vũ khí mà chạy, bỏ đường nhỏ mà chạy tới đường lớn, bỏ đường bộ mà chạy sang đường thủy… Các phương thức tuy không giống nhau nhưng cùng hướng chung đến mục đích là tránh tai họa để bảo đảm an toàn, để bảo toàn lực lượng.
“Tẩu kế” không phải là chạy dài. Chạy chỉ là một giải pháp để mà sẽ quay lại. Tinh hoa của kế chạy là giành thời gian, bảo tồn sức khỏe, lực lượng.
Rút chạy đến một vị trí mới, cho tư thế vững mạnh hơn, tập trung nỗ lực và củng cố tinh thần, chọn một cơ hội thuận tiện để quật lại, ấy mới thực là “Tẩu kế”.
Sau hết phải lo đến điểm nguy của kế chạy: Khi chạy, sẽ mất tinh thần, sự việc hoàn toàn lỏng lẻo, mất sự tin tưởng ở xung quanh. Nếu không giải quyết cho chính xác những vấn đề trên thì “tẩu” không còn là một kế hoạch nữa, mà là một sự tan rã vậy!
            
ÁP DỤNG TAM THẬP LỤC KẾ VÀO KINH DOANH ( Tất Cả  Không chỉ là áp Dụng mà phải là " Tương Kế Tựu Kế " )

Sưu tầm

Wednesday, February 25, 2015

Beat of attack - FIFU music






Happy - Tùm lum team



Sunday, February 1, 2015

Monday, October 27, 2014

Active windows server all version




- Vào RUN nhập đoạn sau: %systemroot%\system32\oobe\msoobe.exe /a
-
Enter, rồi nhập key vào (key bên dưới)
- Next, next, next tới chỗ login account thì tick cái phía dưới (active ko đăng nhập tài khoản).
- Xong, vào RUN gõ kiểm tra đã active%systemroot%\system32\oobe\msoobe.exe /a

Key:
Windows Server 2003 Final All Versions
JB88F-WT2Q3-DPXTT-Y8GHG-7YYQY

Windows xp home edition upgrade
BQJG2-2MJT7-H7F6K-XW98B-4HQRQ

Windows 2003 Candidated Release 2
HJYCJ-647BB-76FYQ-J76JT-P78XD

Windows 2003 Corporate
JB88F-WT2Q3-DPXTT-Y8GHG-7YYQY

Windows 2003 Enterprise Server
QW32K-48T2T-3D2PJ-DXBWY-C6WRJ

Windows 2003 Web Server
D42X8-7MWXD-M4B76-MKYP7-CW9FD

Windows 2003 Standard Server
M6RJ9-TBJH3-9DDXM-4VX9Q-K8M8M

Windows 2003 Server (All)
JB88F-WT2Q3-DPXTT-Y8GHG-7YYQY

Windows 2003 Server Candidated Enterprise Edition
K4RBR-F3K42-M9RXG-48TPR-H6BPB

Windows 2003 Server
K4RBR-F3K42-M9RXG-48TPR-H6BPB
QW32K-48T2T-3D2PJ-DXBWY-C6WRJ

Windows 2003 Server .net
K4RBR-F3K42-M9RXG-48TPR-H6BPB
 QW32K-48T2T-3D2PJ-DXBWY-C6WRJ
 C4C24-QDY9P-GQJ4F-2DB6G-PFQ9W

Windows 2003 Server 32 Bit Enterprise
K4RBR-F3K42-M9RXG-48TPR-H6BPB

Windows 2003 Ger Server Full
C4C24-QDY9P-GQJ4F-2DB6G-PFQ9W

Microsoft Longhorn Build 4008
CKY24-Q8QRH-X3KMR-C6BCY-T847Y

Windows Longhorn Build 4008
CKY24 Q8QRH X3KMR C6BCY T847Y

Windows Longhorn Alpha Build 4008
CKY24 Q8QRH X3KMR C6BCY T847Y

Microsoft Windows Longhorn Alpha Build 3683
CKY24-Q8QRH-X3KMR-C6BCY-T847Y

Tuesday, October 7, 2014

Trắc nghiệm khả năng chủ động của bạn

Trong cuộc sống luôn đòi hỏi mỗi người cần phải có tính chủ động cao. Để có thể khám phá tính chủ động của bạn, hãy thực hiện bài trắc nghiệm dưới đây...

Trong cuộc sống, mọi việc thành công hay thất bại phụ thuộc vào tính tự chủ (chủ động) của mỗi người. Sự chủ động trên cơ sở nhận thức khoa học, sự hiểu biết về công việc sẽ đem đến sự thành công cho mỗi người trên mọi lĩnh vực.

Nhưng thiếu chủ động, hay do dự sẽ để tuột mất nhiều cơ hội tốt đến mình. Tính chủ động hay do dự của bạn không phải ở đâu xa mà chính là những hành động mà bạn đã từng hành động trong thực tế cuộc sống. Để biết mình có phải là người chủ động hay không, hãy thực hiện bài trắc nghiệm dưới đây nhé.

Yêu cầu của bài trắc nghiệm: 

Bạn hãy trả lời trung thực những phương án trả lời cho mỗi câu hỏi. Tương ứng với mỗi phương án trả lời là một số điểm nhất định, sau khi trả lời hết các câu hỏi, bạn sẽ cộng tổng điểm và so sánh với đáp án. Bạn sẽ thấy được sự chủ động của bạn ở mức độ nào.

Hãy bắt đầu nhé!

1. Công việc mà bạn đang làm là do ai quyết định?

a. Do bạn tự quyết định

b. Do gia đình sắp xếp

c. Do bạn bè đóng góp ý kiến

2. Để đạt được vị trí như bây giờ bạn nhờ vào đâu?

a. Nhờ vào năng lực của bạn.

b. Chỉ là sự may mắn tình cờ.

c. Do người quen giúp đỡ.

3. Khi trả bài thi ở trường lúc bạn đang đi học, bạn thường dựa vào đâu?

a. Bạn dựa vào khả năng làm bài của mình.

b. Bạn dựa vào sự hướng dẫn giảng bài của cô giáo và bạn cùng học.

c. Bạn hoàn toàn dựa vào việc nhìn bài của bạn cùng học.

4. Khi đứng trước một sự việc phức tạp bạn sẽ dựa vào đâu để giải quyết.

a. Dựa vào kinh nghiệm và khả năng nhận thức của mình.

b. Có lúc bạn tìm đồng nghiệp để bàn bạc.

c. Bạn luôn tham khảo ý kiến của người khác ở mọi việc.

5.Trong chuyện hôn nhân bạn quyết định như thế nào?

a. Bạn tự tìm hiểu và quyết định tất cả.

b. Bạn kết hôn do sự giới thiệu của người thân.

c. Bạn làm theo sự sắp đặt của gia đình.

6. Khi không có anh ấy ở nhà, bạn sẽ quyết định việc nhà như thế nào?

a. Tự mình quyết định.

b. Đợi anh ấy về và hỏi ý kiến của anh ấy.

c. Không bao giờ dám quyết định.

7. Khi bạn đưa ra ý kiến, bạn sẽ bảo vệ ý kiến của mình đến mức độ nào?

a. Luôn bảo vệ ý kiến của mình đến cùng.

b. Một mặt bảo vệ ý kiến đồng thời có sự tôn trọng ý kiến của người khác.

c. Luôn làm theo ý kiến của người khác.

8. Để khẳng định uy tín và năng lực của mình, bạn phấn đấu theo con đường nào?

a. Bạn tập trung sức lực vào công việc, chẳng cần quan tâm đến xung quanh.

b. Bạn tham khảo ý kiến đóng góp của đồng nghiệp để điều chỉnh cho phù hợp.

c. Bạn luôn làm theo những gì đồng nghiệp nói với bạn.


Sự chủ động quyết định đến thành công của bạn (Ảnh Sanalpazar)

Cách xử lý:

Mỗi câu bạn trả lời cho phương án a: Bạn được 1 điểm

Mỗi câu bạn chọn phương án b: Bạn được 2 điểm

Mỗi câu bạn chọn phương án c: Bạn được 0 điểm

Tổng số điểm bạn có được biểu hiện cụ thể như sau:

Nếu bạn được từ 11 -16 điểm

Bạn là người có tính độc lập, tự chủ cao. Trong quá trình làm một việc nào đó, bạn luôn có sức chịu đựng kiên cường. khi tình hình diễn biến phức tạp, bạn luôn là người đưa ra những quyết định nhanh chóng và giải quyết mọi việc hiệu quả. Chính vì lẽ đó, trước một công việc bạn luôn được xếp ở vị trí trưởng nhóm và được cấp trên và đồng nghiệp tin tưởng và yêu mến.

Trong cuộc sống bạn không bị chi phối vào những chuyện vụn vặt, luôn biết lắng nghe ý kiến của người khác, biết đặt mình vào vị trí của người khác để giải quyết vấn đề.

Nếu bạn được từ 5 – 10 điểm

Bạn là người bảo thủ, tính chủ động của bạn luôn theo ý muốn chủ quan của bạn. mọi việc bạn làm luôn tuân theo những gì bạn nghĩ. Những ý kiến của người khác bạn luôn để ngoài tai bởi theo bạn thì chẳng có ai có thể cho được ý kiến tốt hơn với bản thân mình. Bạn sẽ hết sức khó chịu khi có người tham gia ý kiến vào những việc mà bạn đang làm.

Bạn là người sống theo lý trí, mọi mối quan hệ bạn dựa trên những nguyên tắc máy móc để giải quyết. Chính vì điểm này, nên trên thực tế mọi người ngại tiếp xúc và bạn trở nên ít bạn bè hơn trong cuộc sống.

Vì vậy, bạn cần phải xem xét lại bản thân mình và mở rộng lòng hơn với mọi người để cuộc sống của bạn luôn vui vẻ và hạnh phúc hơn.

Nếu bạn được từ 0 – 4 điểm

Trái ngược với hai mức trên, bạn lại là người hay do dự. Mọi việc mà bạn làm luôn bị người khác chi phối. Nói cách khác, bạn là người thiếu chính kiến, ở mọi lĩnh vực mọi người thiếu niềm tin đối với bạn. đôi khi bạn cũng muốn thể hiện tính chủ động của mình nhưng cũng chỉ ở mức độ yếu ớt. Khi thiếu sự bảo trợ của cấp trên, hay đồng nghiệp hoặc người thân bạn luôn lúng túng chẳng biết xử lý công việc ra sao.

Vì vậy, nếu bạn không muốn cuộc sống của bạn do người khác quyết định thì hãy mạnh dạn hơn. Tích cực học tập và rèn luyện trong thực tế, khẳng định bản thân bằng chính năng lực của mình. Khi có điều kiện, bạn nên mạnh dạn phát biểu chính kiến của mình trước đông người.

Khí Chất và Biểu Hiện

1. KHÍ CHẤT LINH HOẠT (KIỂU XĂNGANH) (Mạnh, Cân Bằng, Linh Hoạt)
– Kiểu người linh hoạt, hăng hái, sôi nổi, tháo vát và đầy sáng tạo (nhưng chỉ lúc nào người đó hứng thú)
– Luôn hướng về tập thể.
– Luôn sống lạc quan, vui vẻ, cởi mở, thiện chí và ưa dí dỏm.
– Tích cực học tập, lao động và công tác xã hội.
– Luôn muốn thay đổi ấn tượng, không chịu được những hoạt động đơn độc kéo dài.
– Tâm tính thường hay thay đổi nhưng chủ yếu là trạng thái thoải mái, cân bằng.
– Dễ quen, dễ thích nghi.
– Những thất bại và những điều khó chịu đối với họ có tính chất nhẹ nhàng.
– Những đại diện: Napôlêông, Lécmantốp, Môda.
Biểu hiện:
+ Có tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, vui vẻ, dễ ham mê, lạc quan.
+ Quan hệ rộng rãi, dễ thân, dễ gần.
+ Trong học tập, các em tiếp thu nhanh, mạnh dạn phát biểu ý kiến, rất nổi trong tập thể, thích tham gia hoạt động, dễ di chuyển chú ý.
+ Dễ nhìn thấy thiếu sót và dễ tiếp thu phê bình.
+ Nhận thức rộng mà không sâu, thiếu kiên trì, bền bỉ, chống chán, dễ phân tán sức lực.
2. KHÍ CHẤT BÌNH THẢN (KIỂU Phlêmatic) (Mạnh, Cân Bằng, Không Linh Hoạt)
– Thường bình thản và thăng bằng. Luôn thong thả, ung dung, đĩnh đạc, không bao giờ hấp tấp.
– Chín chắn, ít bị kích động. Luôn bình tĩnh giải quyết khó khăn trong cuộc sống. Thực hiện mọi việc chu đáo, thận trọng.
– Thích trật tự, ngăn nắp và hoàn cảnh quen thuộc.
– Ít cởi mở, ít biểu hiện rõ rệt các cảm xúc và trạng thái tình cảm.
– Nhược điểm của kiểu khí chất này là: có tính ỳ và không linh hoạt. Thích nghi chậm với môi trường.
Những đại diện: M.I.Cutudốp, I.Niutơn, nhà thơ A.Crưlốp.
Biểu hiện:
+ Cần cù, chịu khó, chăm chỉ học tập.
+ Nhận thức không nhanh nhưng chắc và sâu.
+ Nghiêm túc trong học tập và có tinh thần trách nhiệm với công việc nhưng phản ứng chậm với những tác động.
+ Thường có vẻ kín đáo, ít cởi mở, ít chan hòa với bạn bè, với những hoạt động sôi nổi.
+ Thiếu linh hoạt, chậm chạp, thường do dự, bỏ lỡ cơ hội.
3. KHÍ CHẤT NÓNG NẢY (kiểu Côlêric) (Mạnh, Không Cân Bằng)
- Thường nhanh nhẹn, nóng nảy, ồ ạt.
– Rất tích cực, say mê.
– Phản ứng mạnh và kiên quyết.
– Các rung cảm diễn ra với nhịp điệu nhanh.
– Cảm xúc bộc lộ rõ rệt qua nét mặt, ngôn ngữ.
– Thường là người thật thà, thẳng thắn, không quanh co.
– Tính phản ứng mạnh thường lấn át tính tích cực.
– Đặc biệt say mê trong công việc nhưng nhiều khi lại mất cân bằng, dễ có những thay đổi đột ngột trong tâm trạng, có những cảm xúc bộc phát.
– Dễ bốc, dễ xẹp.
– Gay gắt, cục cằn.
Các đại diện: A.Puskin, nhà quân sự A.E.Xuvurốp, nhà cách mạng M.Rôbespie.
Biểu hiện:
+ Hay xung phong nhận nhiệm vụ và quyết tâm làm cho bằng được bất chấp khó khăn.
+ Thường là những người hăng hái, đi đầu.
+ Hay hứng thú với những hoạt động có tính chất động.
+ Hăng hái, sôi nổi nhưng thiếu kiên trì hay vội vàng, hấp tấp.
+ Đối với bạn hay nhiệt tình, hay giúp đỡ nhưng cũng hay cáu gắt khi không vừa ý.
+ Dễ bị khích.
+ Tính tự kiềm chế kém. Hay tự ái, dễ nổi nóng, dễ phát khùng dẫn đến hành động vô tổ chức, vô kỉ luật bất chấp hậu quả.
4. Khí chất ưu tư (kiểu Mêlangcôle) (kiểu thần kinh yếu)
– Kiểu người có thiên hướng ngẫm nghĩ sâu.
– Nhạy cảm, đa sầu, đa cảm.
– Ít cởi mở, dễ bị ức chế, dễ bi quan, lo lắng, dễ bị mếch lòng, hay nghĩ ngợi một cách ốm yếu.
– Lúng túng, vụng về trong hoàn cảnh mới.
Theo Páplốp, những người thuộc kiểu khí chất này là loại người có “tính đau khổ” cao:
Những đại diện: Gôgôn, P.I.Traicốpxki.
Biểu hiện:
+ Bề ngoài ủy mị, yếu đuối, hay lo lắng.
+ Rụt rè, nhút nhát hay tự ti, khép kín.
+ Nhận thức chậm nhưng sâu sắc.
+ Suy nghĩ chín chắn, biết nhìn xa trông rộng.
+ Giàu ấn tượng, nhạy bén, tinh tế.
+ Xa lánh, không thích những hoạt động náo nhiệt.
+ Đặc điểm nổi bật là hiền dịu, dễ cảm thông với mọi người.
+ Tình cảm tế nhị, bền vững.
+ Thường mơ mộng, đắm chìm trong thế giới nội tâm.
+ Kiên trì chịu đựng, khắc phục khó khăn. Trong hoàn cảnh quen thuộc, bình thường họ làm việc tốt, đạt kết quả cao.

 

Subscribe to our Newsletter

Contact our Support

E-mail: syphu3107@live.com

Our Team Memebers